LY HÔN NHƯNG CHƯA CHIA TÀI SẢN: SAU NÀY CÓ QUYỀN YÊU CẦU CHIA KHÔNG?
4
Khi ly hôn, không ít trường hợp vợ chồng chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân và quyền nuôi con, còn tài sản chung thì chưa yêu cầu chia. Điều này thường xuất phát từ việc chưa thống nhất được giá trị tài sản, chưa thu thập đầy đủ giấy tờ hoặc đơn giản là các bên muốn giải quyết việc ly hôn trước.
Vậy sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực, một trong hai bên có còn quyền yêu cầu chia tài sản chung hay không?
Không có một quy định cụ thể nào quy định rằng vợ chồng có thể lựa chọn chia tài sản trước hoặc sau khi ly hôn. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
“Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn;
…”
Qua đó, có thể thấy pháp luật đã ghi nhận “chia tài sản khi ly hôn” và “chia tài sản sau khi ly hôn” là hai dạng tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc pháp luật đồng thời ghi nhận tranh chấp chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn cho thấy việc chia tài sản không bắt buộc phải được giải quyết cùng thời điểm với việc chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nói cách khác, việc quan hệ hôn nhân đã được Tòa án giải quyết và đã chấm dứt không làm mất đi quyền yêu cầu giải quyết đối với khối tài sản chung mà vợ chồng chưa chia.
Do đó, trường hợp khi giải quyết vụ án ly hôn, các bên chưa yêu cầu hoặc Tòa án chưa giải quyết về tài sản chung, thì sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, giữa các bên vẫn có thể phát sinh tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn và vợ hoặc chồng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Như vậy, việc đã ly hôn không đồng nghĩa với việc một bên đương nhiên mất quyền đối với phần tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà chưa được giải quyết, phân chia.
Để xác định tài sản nào có thể yêu cầu chia sau khi ly hôn, trước hết cần xác định tài sản đó có phải là tài sản chung của vợ chồng hay không. Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân […]; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Như vậy, những tài sản được vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân như nhà, đất, tiền tiết kiệm, phương tiện, tài sản phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các tài sản khác có thể là tài sản chung và là đối tượng có thể yêu cầu Tòa án chia sau khi ly hôn.
Tuy nhiên, việc tài sản chỉ đứng tên vợ hoặc chồng không đồng nghĩa tài sản đó đương nhiên là tài sản riêng của người đứng tên. Vấn đề này được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.”
Trong khi đó, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
Từ các quy định trên có thể thấy, khi xảy ra tranh chấp, việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung hay riêng không chỉ căn cứ vào việc tài sản đứng tên ai. Cần xem xét toàn bộ nguồn gốc hình thành tài sản, thời điểm xác lập, nguồn tiền dùng để tạo lập tài sản, thỏa thuận giữa vợ chồng và các chứng cứ khác có liên quan.
Ví dụ, một căn nhà được mua trong thời kỳ hôn nhân bằng nguồn tiền do cả hai vợ chồng cùng tạo lập nhưng giấy chứng nhận chỉ đứng tên người chồng. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, việc giấy chứng nhận chỉ ghi tên người chồng không tự động làm cho căn nhà trở thành tài sản riêng của người chồng. Nếu không có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng thì tài sản có thể được xác định là tài sản chung của vợ chồng để giải quyết việc chia tài sản sau khi ly hôn.
Một vấn đề mà nhiều người quan tâm là sau khi ly hôn, nếu một thời gian dài mới yêu cầu chia tài sản thì còn được Tòa án giải quyết hay không.
Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự hoặc luật khác có liên quan quy định khác; đồng thời, không áp dụng thời hiệu đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
“Điều 155. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
4. Trường hợp khác do luật quy định.”
Do đó, đối với yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn, nếu tranh chấp có bản chất là yêu cầu xác định và bảo vệ quyền sở hữu của mỗi bên đối với khối tài sản chung chưa được phân chia thì về nguyên tắc cần xem xét quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện nêu trên.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người có quyền lợi liên quan nên để tranh chấp kéo dài. Trên thực tế, việc chậm yêu cầu giải quyết có thể dẫn đến nhiều khó khăn như tài sản đã được chuyển nhượng cho người khác, bị thay đổi hiện trạng, phát sinh giao dịch với bên thứ ba hoặc các chứng cứ về nguồn gốc tài sản, nguồn tiền và công sức đóng góp của mỗi bên không còn đầy đủ.
Vì vậy, mặc dù trong nhiều trường hợp pháp luật không đặt ra một thời hạn cụ thể để yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn, người có quyền vẫn nên chủ động bảo vệ quyền lợi của mình và thu thập, lưu giữ các tài liệu chứng minh nguồn gốc cũng như quá trình tạo lập tài sản.
Nhiều người cho rằng tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn sẽ luôn được chia đôi. Tuy nhiên, nguyên tắc chia tài sản không đơn giản là “mỗi người một nửa”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét nhiều yếu tố như:
• Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
• Công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung;
• Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
• Lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng;
Vì vậy, nguyên tắc chung là chia đôi nhưng có xem xét các yếu tố cụ thể của từng vụ việc. Kết quả cuối cùng có thể không nhất thiết là mỗi bên được hưởng chính xác 50% giá trị tài sản.
Sau khi ly hôn, nếu trước đó tài sản chung chưa được giải quyết thì vợ hoặc chồng vẫn có quyền yêu cầu chia tài sản. Việc không yêu cầu chia tài sản trong cùng vụ án ly hôn không đồng nghĩa với việc từ bỏ quyền đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi, người có yêu cầu cần xác định rõ tài sản nào là tài sản chung, thu thập đầy đủ chứng cứ về nguồn gốc và quá trình tạo lập tài sản, đồng thời lựa chọn thời điểm và phương án giải quyết phù hợp.
Trong trường hợp tài sản có giá trị lớn hoặc có tranh chấp phức tạp về nguồn gốc, việc đánh giá kỹ hồ sơ pháp lý trước khi khởi kiện là cần thiết để tránh tình trạng tài sản chung nhưng không đủ chứng cứ chứng minh quyền lợi của mình.
Trên đây là nội dung bài viết của Luật Công Bình về vấn đề chia tài sản sau khi đã ly hôn. Trường hợp Quý khách hàng có thắc mắc cần giải đáp, vụi lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn cụ thể cho vấn đề gặp phải.
———————————————————————
CÔNG TY LUẬT TNHH MTV CÔNG BÌNH
Lĩnh vực hoạt động:
Hãy liên hệ ngay với Luật Công Bình để được tư vấn và hỗ trợ pháp lý tận tình!!

