NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN CHƯA CÓ ĐIỀU KIỆN THI HÀNH: QUY ĐỊNH MỚI TỪ NGÀY 01/7/2026

NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN CHƯA CÓ ĐIỀU KIỆN THI HÀNH: QUY ĐỊNH MỚI TỪ NGÀY 01/7/2026

7

Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 chính thức có hiệu lực, trong đó có nhiều quy định mới đáng chú ý về trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án.

 
📂 Khi nào được xác định là “chưa có điều kiện thi hành án”?
Thi hành án dân sự là giai đoạn nhằm bảo đảm các bản án, quyết định đã có hiệu lực được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, không phải mọi bản án, quyết định đều có thể được thi hành ngay.
Theo Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15, người phải thi hành án được xem là có điều kiện thi hành án khi có tài sản, thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản; tự mình, hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Ngược lại, trong trường hợp người phải thi hành án chưa có tài sản, thu nhập hoặc chưa có điều kiện thực tế để thực hiện nghĩa vụ, cơ quan thi hành án dân sự có thể xác định vụ việc thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành án.
Việc xác định này không có nghĩa là nghĩa vụ theo bản án, quyết định bị xóa bỏ. Đây chỉ là tình trạng pháp lý phản ánh rằng tại thời điểm xác minh, chưa có cơ sở để tổ chức thi hành nghĩa vụ bằng các biện pháp phù hợp.
 
📝 Sau 02 năm có thể gửi lại yêu cầu thi hành án
Theo khoản 3 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, nếu người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án ít nhất 06 tháng một lần. Đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt còn lại từ 02 năm trở lên hoặc trường hợp không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì việc xác minh được thực hiện ít nhất 01 năm một lần.
Đặc biệt, khi có thông tin mới do đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp về tài sản, thu nhập hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh theo quy định.
Như vậy, việc người phải thi hành án hiện tại không có tài sản không đồng nghĩa với việc cơ quan thi hành án hoàn toàn dừng việc theo dõi.
 
🔎 Điểm mới quan trọng: Sau 02 năm có thể “gửi lại yêu cầu thi hành án”
Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý nhất của Luật Thi hành án dân sự năm 2025. Theo khoản 4 Điều 38, nếu: Đã hết 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và chấp hành viên đã thực hiện việc xác minh theo quy định mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án cho người đã yêu cầu.
Quy định này nhằm giải quyết tình trạng nhiều vụ việc tồn đọng trong thời gian rất dài mặc dù người phải thi hành án không có tài sản hoặc thu nhập để thi hành.
Cần đặc biệt lưu ý: “gửi lại yêu cầu thi hành án” không phải là “xóa nghĩa vụ thi hành án”.
Nói cách khác, người phải thi hành án vẫn phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định nếu sau đó xuất hiện điều kiện thi hành án.
 
🔑 Sau khi cơ quan thi hành án gửi lại yêu cầu, người được thi hành án có mất quyền đòi tiền hay không?
Khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án về nguyên tắc là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Tuy nhiên, Luật mới có một quy định rất quan trọng: không tính thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo khoản 4 Điều 38.
Do đó, không nên hiểu rằng sau 02 năm kể từ ngày có quyết định chưa có điều kiện thi hành án thì người được thi hành án sẽ mất quyền yêu cầu thi hành.
Ngược lại, khi phát hiện người phải thi hành án có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện thực tế để thi hành nghĩa vụ, người được thi hành án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại.
Đây là điểm bảo đảm đáng kể quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
 
 
 

Viết bình luận

<